
Đình Trung Tả
Số 24, ngõ Trung Tả, Khâm Thiên, Thổ Quan, Đống Đa
0243 851 1306
Giới thiệu
Đình Trung Tả có địa chỉ tại số 264, phố Khâm Thiên, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Đình Trung Tả thờ Trần Hưng Đạo (1232–1300), một tôn thất hoàng giaĐại ViệtthờiTrần, ông là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất ở thế kỷ XIII, người đã chỉ huy quân đội đánh tanhai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288. Không chỉ là một thiên tài quân sự, Trần Hưng Đạo còn là một nhân cách lớn để lại tiếng thơm muôn đời cho hậu thế. Khi đất nước bị lâm nguy, ông sẵn sàng gạt bỏ thù riêng để lo việc nước. Mặc dù lập được chiến công phi thường nhưng sự trung thành của ông khiến người đời phải thán phục. Ông chính là biểu tượng của lòng trung nghĩa, sự tận tuỵ báo quốc, là khí phách bất phàm của một bậc chính nhân quân tử. Trước khi mất, ông vẫn không quên dặn các vua Trần: “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc" cho sự nghiệp lâu dài của nước nhà. Ông còn là tác giả của hai bộ binh thư và đặc biệt bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng còn lưu truyền đến ngày nay. Sau khi ông mất, vua phong ông tước Hưng Đạo Đại Vương. Nhân dân lập đền thờ ông ở khắp nơi trên mọi miền đất nước. Ngoài ra, nhiều nơi đã thờ Trần Hưng Đạo làm Thành Hoàng làng với mong muốn được bảo vệ, chở che cho muôn dân được bình an, hạnh phúc.
Hiện chưa có một văn tự nào ghi chép cụ thể thời kỳ khởi dựng của di tích. Theo lời kể của các cụ cao tuổi cùng những truyền thuyết dân gian tại địa phương, thì ngôi đình được khởi dựng từ khá sớm trong vùng đất cổ của kinh thành Thăng Long xưa. Sau đó đình được trùng tu vào năm Tự Đức thứ mười ba (1860), Thành Thái nguyên niên (1889), Bảo Đại thứ ba (1928). Năm 1946, đình bị giặc Pháp đốt cháy. Sau ngày hòa bình, nhân dân đã xây dựng lại ngôi đình làm nơi thờ cúng Thành Hoàng.
Vào đêm ngày 26/12/1972, giặc Mỹ đã ném bom B52 hủy diệt, san phẳng khu phố Khâm Thiên, đình Trung Tả bị phá hủy, kết quả kiến trúc hiện nay mang dấu ấn của lần trùng tu vào cuối thế kỷ XX.
Tương truyền, trước kia trong khu vực trước cửa đình - đền có một hồ nước lớn, hồ rộng tới 3 mẫu, cạnh hồ còn có cây si cổ thụ. Từ khu hồ vào sân đình còn một bồn hoa, rồi đến bức bình phong đắp nổi hai chữ "Phúc Thọ" và một bể non bộ. Cạnh hồ có cây cầu bắc ngang để dân làng lấy nước giặt giũ. Xung quanh hồ và trước cửa đình - đền có nhiều cây hoa, cây ăn quả, như: phong lan, na, cây đa cổ thụ. Những công trình kiến trúc của khu vực này cùng cảnh quan xưa đã không còn, kiến trúc hiện tại của di tích đã bị thu hẹp bởi các công trình dân sinh nằm liền kề với di tích.
Từ ngoài phố Khâm Thiên, đến số 264 là một cổng nhỏ xây cuốn vòm bằng gạch, phía trên trang trí hoa văn kỷ hà và bức đại tự đề 4 chữ Hán “Văn Chương linh từ”[1]; men theo con ngõ nhỏ đi tiếp vào lớp cổng thứ hai cũng hình thức xây cuốn vòm, chồng diêm hai tầng 8 mái, lợp ngói vảy. Đỉnh nóc mái đắp hình mặt trời lửa, ngăn giữa tầng mái trên và tầng mái dưới đắp chữ “đình đền Trung Tả”, dưới là bức cuốn thư đề chữ “làng Văn Chương” dẫn vào con đường lát gạch khoảng vài chục mét là đến sân đình.
Đình xây theo hướng Tây Nam, bằng vật liệu hiện đại, trước đình là sân gạch nhỏ và cây đa cổ thụ tỏa bóng mát xuống sân. Trước hiên có hai trụ biểu, đỉnh trụ trang trí nghê chầu, mái hiên trang trí rồng chầu mặt trời xen lẫn các họa tiết vân lá.
Kiến trúc hiện tại của đình Trung Tả khá khiêm tốn theo kiểu chữ “Đinh” gồm tòa Tiền Tế và Hậu Cung.
Nhà Tiền Tế gồm 3 gian, mái đổ bê tông. Đây là nơi thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hậu Cung gồm 2 gian dọc, xây hai tầng. Tầng 1 mái đổ bê tông, tầng hai lợp bằng ngói ri, kết cấu các bộ vì làm bằng gỗ theo kiểu “Kèo cầu quá giang trốn cột”. Đây là nơi thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo. Tượng Trần Hưng Đạo đặt trong ngai rồng ở vị trí trang trọng nhất. Tượng cao trên 1m, mặc áo long bào có bố tử, đầu đội mũ Bình thiên. Mặt tượng vuông vức, tai to chảy dài, nét quắc thước. Tượng mang niên đại đầu thế kỷ XX, song những nét tạc tượng đều thuân thủ theo cách tạo tác của những tượng truyền thống nên mang giá trị nghệ thuật cao. Bên dưới là tượng hai người con gái của Ngài cùng hai vị quan hầu cận. Trên các gian treo hai bức Đại tự: “Hưng Đạo Đại Vương” và “Trấn Nam Thiên”.
Trải qua nhiều biến động của lịch sử, đến nay đình Trung Tả vẫn còn bảo lưu được một số di vật quý, có giá trị lịch sử - văn hóa, đó là 3 tấm Bia đá được tạo vào các năm Tự Đức 13 (1860), Thành Thái nguyên niên (1889), Bảo Đại 3 (1928), tượng Đức Thánh Trần và những người hầu cận cùng nhiều Hoành phi, Câu đối, Cửa võng sơn son thếp vàng lộng lẫy. Những di vật này phần lớn mang niên đại nghệ thuật thế kỷ XIX-XX.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đình Trung Tả còn là một trong những địa chỉ hoạt động và truyền bá chữ Quốc ngữ, nơi cất giấu tài liệu, vũ khí và là trạm cứu thương của đội Tự vệ Biệt động nội thành.
Mặc dù không còn giữ được dáng vẻ của lần khởi dựng nhưng sự hiện diện của di tích đã minh chứng cho nhu cầu tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng không thể thiếu của cư dân địa phương, về sự tồn tại của hình thái tín ngưỡng đình làng trong văn hóa cộng đồng làng Việt. Ngôi đình là biểu tượng thân thuộc, là niềm tự hào của mỗi người dân làng Trung Tả xưa và nay.
Đình Trung Tả đã được xếp hạng là di tích cấp Quốc gia năm 1993.
Bản đồ
Địa điểm xung quanh